Tăng nặng mức xử phạt hành chính
Căn cứ Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình và hôn nhân, hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đã được quy định mức phạt cụ thể và nghiêm khắc hơn.
Theo đó, mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sẽ được áp dụng đối với các nhóm hành vi sau:
• Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn.
• Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ.
• Vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; hoặc giữa các thành viên gia đình khác (anh, chị, em; ông bà và cháu) theo quy định pháp luật.
Bên cạnh việc nộp phạt, người vi phạm bắt buộc phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Cụ thể, pháp luật buộc người vi phạm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng mà họ đã trốn tránh trước đó.
Trách nhiệm hình sự khi tái phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng
Trong trường hợp các chế tài hành chính không đủ sức răn đe hoặc hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, người trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có thể bị xử lý hình sự.
Dựa trên Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 37 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), hành vi này bị coi là tội phạm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
1. Người có nghĩa vụ và có khả năng thực tế để cấp dưỡng nhưng cố tình trốn tránh, dẫn đến việc người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe.
2. Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục vi phạm.
Khung hình phạt áp dụng cho tội danh này bao gồm: phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm, hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Tuy nhiên, quy định này loại trừ các trường hợp đã được quy định tại Điều 380 Bộ luật Hình sự (Tội không chấp hành án).
Thời hiệu xử lý vi phạm
Về thời hạn để cơ quan chức năng ra quyết định xử phạt, khoản 1 Điều 6 Nghị định 282/2025/NĐ-CP xác định rõ thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình (bao gồm hành vi không cấp dưỡng) là 01 năm.
Để xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu, cần căn cứ thêm vào khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020). Tùy thuộc vào loại hình biện pháp xử lý (giáo dục tại xã, phường; đưa vào trường giáo dưỡng; cơ sở giáo dục bắt buộc...), thời hiệu có thể dao động từ 3 tháng đến 1 năm tính từ ngày thực hiện hành vi vi phạm hoặc ngày kết thúc hành vi vi phạm gần nhất.
Một nguyên tắc quan trọng cần lưu ý là nếu cá nhân cố tình trốn tránh hoặc cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý, thời hiệu sẽ không được tính liên tục mà sẽ được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh, cản trở đó chấm dứt. Quy định này nhằm đảm bảo không ai có thể lợi dụng kẽ hở về thời gian để thoái thác trách nhiệm pháp lý đối với con cái và người thân.