luatvienan@vienan.vn | 028 7300 6876 - 097 2757676
Thời gian làm việc: Sáng: 08:00 - 12:00 - Chiều: 13:30 - 17:30

Hệ thống quyền lợi hợp pháp và định nghĩa về hoạt động khám, chữa bệnh theo quy định mới

Trang chủ / Kiến thức pháp luật / Kiến thức chung / Hệ thống quyền lợi hợp pháp và định nghĩa về hoạt động khám, chữa bệnh theo quy định mới
Developer 21 tháng 11 2025

Hệ thống quyền lợi hợp pháp và định nghĩa về hoạt động khám, chữa bệnh theo quy định mới

1. Định danh pháp lý về hoạt động khám, chữa bệnh
Căn cứ Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, các hoạt động chuyên môn y tế được định nghĩa cụ thể nhằm phân định rõ trách nhiệm của người hành nghề:
Về mặt pháp lý, khám bệnh là quá trình người hành nghề vận dụng kiến thức, kỹ thuật và phương pháp chuyên môn để đánh giá hiện trạng sức khỏe, nhận diện các nguy cơ tiềm ẩn và xác định nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cá nhân.
Trong khi đó, chữa bệnh là bước tiếp nối, nơi người hành nghề sử dụng năng lực chuyên môn để giải quyết tình trạng bệnh lý, ngăn chặn sự phát triển của bệnh hoặc đáp ứng các nhu cầu chăm sóc sức khỏe dựa trên kết quả đã thăm khám trước đó.
Đối tượng trung tâm của các hoạt động này là người bệnh – được hiểu là bất kỳ cá nhân nào sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh.
2. Các nhóm quyền cơ bản của người bệnh
Hệ thống quyền của người bệnh được quy định trải dài từ Điều 9 đến Điều 15 của Luật, bao quát từ quyền được tôn trọng, bảo mật thông tin đến quyền tự quyết trong điều trị.
Quyền tiếp cận thông tin và an toàn trong điều trị (Điều 9, Điều 12)
Minh bạch thông tin là yêu cầu bắt buộc trong hoạt động y tế. Người bệnh có quyền được giải thích rõ ràng về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và các khoản chi phí dịch vụ. Đồng thời, họ phải được hướng dẫn cách tự theo dõi và phòng ngừa tai biến.
Pháp luật cũng quy định người bệnh có quyền tiếp cận, đọc, sao chụp và nhận tóm tắt hồ sơ bệnh án theo trình tự quy định tại khoản 4 Điều 69. Về phương pháp điều trị, người bệnh phải được đảm bảo an toàn, phù hợp với tình trạng bệnh lý và điều kiện thực tế của cơ sở y tế.
Quyền được tôn trọng và bảo đảm bí mật riêng tư (Điều 10)
Mọi người bệnh đều bình đẳng và được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc, tín ngưỡng hay địa vị xã hội. Pháp luật nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, ngược đãi hoặc lạm dụng (thể chất, tình dục) trong môi trường y tế.
Đặc biệt, thông tin đời tư và hồ sơ bệnh án được bảo mật tuyệt đối. Người hành nghề chỉ được phép chia sẻ thông tin này khi có sự đồng ý của người bệnh hoặc trong các trường hợp pháp luật yêu cầu (quy định tại Điều 69). Nghiêm cấm mọi hành vi ép buộc khám chữa bệnh, ngoại trừ các tình huống bắt buộc chữa bệnh để bảo đảm an toàn cộng đồng theo khoản 1 Điều 82.
Quyền tự quyết và lựa chọn phương pháp (Điều 11, Điều 13)
Trên cơ sở được tư vấn đầy đủ về rủi ro và kết quả, người bệnh có quyền lựa chọn phương pháp điều trị hoặc quyết định tham gia/từ chối các nghiên cứu y sinh học.
Quyền từ chối điều trị hoặc rời khỏi cơ sở y tế khi chưa kết thúc liệu trình cũng được pháp luật ghi nhận. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này, người bệnh phải lập văn bản cam kết tự chịu trách nhiệm sau khi đã nghe tư vấn từ bác sĩ (trừ các trường hợp bắt buộc chữa bệnh theo Điều 82).
Quyền kiến nghị và đòi bồi thường (Điều 14)
Trong quá trình sử dụng dịch vụ, nếu phát hiện sai sót hoặc bất cập, người bệnh có quyền kiến nghị với cơ sở y tế. Nếu xảy ra sự cố y khoa gây thiệt hại do lỗi chuyên môn, người bệnh được quyền yêu cầu bồi thường theo quy định tại Điều 102 của Luật.
3. Cơ chế quyết định đối với nhóm người bệnh đặc thù (Điều 15)
Luật dự liệu các trường hợp người bệnh không đủ năng lực tự quyết định (người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế nhận thức, hoặc người chưa thành niên). Cơ chế thực hiện quyền trong các trường hợp này được phân cấp như sau:
Đối với người thành niên nhưng mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự:
• Ưu tiên thực hiện theo văn bản thể hiện nguyện vọng hợp pháp mà người bệnh đã lập trước đó (nếu có).
• Nếu không có văn bản trước đó: Quyết định sẽ thuộc về người đại diện hợp pháp (theo Điều 8).
• Trường hợp không có cả người đại diện: Quyết định cuối cùng thuộc về người chịu trách nhiệm chuyên môn hoặc lãnh đạo trực của cơ sở khám chữa bệnh để đảm bảo tính mạng cho bệnh nhân.
Đối với người bệnh là người chưa thành niên:
• Ưu tiên quyết định của người đại diện (người giám hộ, người thân theo quy định tại Điều 8).
• Nếu không có người đại diện tại thời điểm cấp bách, quyền quyết định thuộc về người chịu trách nhiệm chuyên môn hoặc lãnh đạo trực của cơ sở y tế.