Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vừa ban hành Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP, nội dung hướng dẫn việc áp dụng một số quy định về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự. Văn bản pháp lý quan trọng này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2025.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là việc làm rõ tình tiết "Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết", được quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Cụ thể, đây là trường hợp một người, nhằm tránh một thiệt hại cho lợi ích hợp pháp (của bản thân, người khác, hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức), đã buộc phải gây ra một thiệt hại khác do không còn cách xử lý nào khác. Tuy nhiên, trong thực tế, thiệt hại do hành vi này gây ra lại rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, tức là bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần được ngăn ngừa.
Nghị quyết cũng nêu một ví dụ cụ thể để làm rõ: một cửa hàng xảy ra cháy, dù đám cháy đã được khống chế nhưng khói vẫn còn nhiều. Một nhân viên (tên A) lo sợ cháy lan sang nhà để xe nên đã tự ý phá cửa và tường để lấy xe máy trị giá 20.000.000 đồng của mình ra ngoài. Hành vi phá hoại này gây thiệt hại tài sản lên đến 100.000.000 đồng.
Trong tình huống này, thiệt hại thực tế (100 triệu đồng) lớn hơn nhiều so với thiệt hại cần ngăn ngừa (20 triệu đồng). Do đó, hành vi của A được xác định là đã vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết và sẽ được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định đã dẫn.
Bối cảnh pháp lý về các tình tiết giảm nhẹ
Tình tiết "vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết" nêu trên là một trong số các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bên cạnh đó, Điều 51 cũng liệt kê nhiều tình tiết giảm nhẹ khác khi Tòa án xem xét, quyết định hình phạt, bao gồm:
• Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
• Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
• Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
• Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
• Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
• Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
• Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
• Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
• Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
• Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
• Phạm tội do lạc hậu;
• Người phạm tội là phụ nữ có thai;
• Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
• Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
• Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
• Người phạm tội tự thú;
• Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
• Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
• Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
• Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
• Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.
Ngoài các tình tiết được liệt kê rõ tại khoản 1, Tòa án cũng có thể xem xét các tình tiết khác (như đầu thú) là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt, nhưng bắt buộc phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
Một nguyên tắc quan trọng cần lưu ý là các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì sẽ không được xem xét là tình tiết giảm nhẹ một lần nữa khi Tòa án quyết định hình phạt.