Phòng vệ chính đáng là quyền hợp pháp được pháp luật ghi nhận, cho phép công dân sử dụng sức mạnh cần thiết để chống trả hành vi xâm phạm trái pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, người khác hoặc của xã hội. Tuy nhiên, quyền này không phải là không giới hạn. Việc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là một hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phòng vệ chính đáng được xác định như sau:
"Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác, của cơ quan, tổ chức chống lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên mà không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng."
Tiếp đó, khoản 2 của Điều 22 quy định rõ về hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng:
"2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng vượt quá mức cần thiết để ngăn chặn hành vi xâm phạm. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự."
Từ những quy định này, có thể thấy rằng phòng vệ chính đáng chỉ được pháp luật bảo vệ khi hành vi chống trả là “cần thiết” và không vượt quá giới hạn cần thiết để ngăn chặn hành vi xâm phạm. Trong thực tiễn, việc xác định một hành vi cụ thể có vượt quá giới hạn phòng vệ hay không cần dựa vào các yếu tố khách quan như: tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm; điều kiện, hoàn cảnh xảy ra sự việc; khả năng tự vệ và nhận thức của người phòng vệ.
Một trong những điểm quan trọng để phân biệt giữa phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn là nguyên tắc “cần thiết” và “tương xứng”. Nếu hành vi xâm phạm mang tính chất nguy hiểm thấp nhưng người bị xâm phạm lại sử dụng biện pháp quá mạnh, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị coi là vượt quá giới hạn. Ví dụ, nếu một người chỉ bị tát nhưng lại dùng dao đâm người kia gây tử vong thì hành vi đó có thể bị xem là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Tùy vào hậu quả xảy ra, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có thể bị truy cứu theo các tội danh như: cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS), giết người (Điều 123 BLHS), hoặc các tội danh tương ứng với hậu quả đã gây ra. Tuy nhiên, khi xem xét trách nhiệm hình sự đối với những người phạm tội trong trường hợp vượt quá phòng vệ chính đáng, Tòa án sẽ xem xét toàn diện các yếu tố khách quan và chủ quan của hành vi để quyết định hình phạt phù hợp, có thể được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Một điểm đáng chú ý là trong thực tế xét xử, Tòa án thường gặp khó khăn trong việc phân định ranh giới giữa phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn, đặc biệt trong các vụ án xảy ra trong tình huống bất ngờ, tâm lý hoảng loạn, hoặc người phòng vệ không có nhiều lựa chọn hành động.
Pháp luật hiện hành chưa có tiêu chí định lượng cụ thể để xác định thế nào là “mức cần thiết” hay “vượt quá mức cần thiết”, mà chủ yếu để lại cho Tòa án và cơ quan tố tụng đánh giá theo từng vụ việc. Đây là một khoảng trống pháp lý cần được nghiên cứu bổ sung, nhằm bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền chính đáng của người dân trong việc phòng vệ khi bị tấn công trái
pháp luật.
Từ góc độ chính sách hình sự, việc quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng vừa nhằm bảo đảm sự công bằng trong xã hội, tránh lạm dụng quyền phòng vệ để gây thương tích hoặc tước đoạt tính mạng của người khác, đồng thời vẫn giữ được sự nhân đạo, khoan hồng đối với những trường hợp phòng vệ trong điều kiện tinh thần bị kích động mạnh hoặc không thể kiểm soát hành vi.
Tóm lại, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả không tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm, bị pháp luật hình sự điều chỉnh và xử lý nghiêm khắc. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền con người một cách đầy đủ, pháp luật cũng cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá và áp dụng thực tiễn để bảo đảm quyền phòng vệ của công dân được thực thi đúng pháp luật và hợp lý trong từng tình huống cụ thể./. (LS. Nguyễn Thị Hải Yến, Công ty Luật Viên An).
Nguồn: Quốc hội (2015), Bộ luật hình sự 2015 số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, Hà Nội.
*Lưu ý:
- Bài viết này được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo chung về các quy định pháp luật hiện hành;
- Một số điều khoản pháp luật được đề cập có thể đã được sửa đổi, bổ sung hoặc hết hiệu lực tại thời điểm bạn tiếp cận thông tin;
- Để đảm bảo quyền lợi và có được tư vấn phù hợp với tình huống cụ thể, bạn vui lòng liên hệ với đội ngũ luật sư của Công ty Luật Viên An hoặc gọi ngay đến số gọi số: 097.275.7676 để được hỗ trợ chi tiết và chính xác nhất.
15 Tháng Giêng 2026
09 Tháng Giêng 2026