Một trong những vướng mắc phổ biến trong thực tiễn thừa kế là trường hợp di chúc của người chết để lại bị thất lạc hoặc hư hại. Điều 642 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) đã dự liệu và quy định rõ các kịch bản xử lý cho tình huống này.
Khi nào di chúc bị xem là không có?
Di chúc (được định nghĩa tại Điều 624 BLDS 2015 là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết) chỉ bị coi là không có và áp dụng quy định về thừa kế theo pháp luật nếu hội đủ hai điều kiện:
1. Tại thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại tài sản chết): Bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại nghiêm trọng đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc.
2. Đồng thời: Không có bất kỳ bằng chứng nào khác có thể chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc là gì.
Khi đó, di sản sẽ được phân chia theo các quy định về thừa kế theo pháp luật.
Các trường hợp tìm thấy di chúc bị thất lạc
Tuy nhiên, Điều 642 cũng quy định rõ về giá trị pháp lý của di chúc nếu nó được tìm thấy sau thời điểm mở thừa kế, cụ thể:
- Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.
- Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.
- Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.
Thời hiệu yêu cầu chia di sản là bao lâu?
Yếu tố "thời hiệu" là mấu chốt trong trường hợp thứ hai. Điều 623 BLDS 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
+ Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015.
+ Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
- Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng thế nào?
Trong trường hợp di chúc bị vô hiệu (như kịch bản đầu tiên), di sản sẽ được chia theo pháp luật (Điều 649 BLDS 2015), tức là chia theo hàng thừa kế.
Luật quy định ba hàng thừa kế (Điều 652 BLDS 2015):
1. Hàng thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
2. Hàng thứ hai: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột (mà người chết là ông, bà).
3. Hàng thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại; bác, chú, cậu, cô, dì ruột; cháu ruột (mà người chết là bác, chú, cậu, cô, dì); chắt ruột (mà người chết là cụ).
Nguyên tắc chia là những người cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng sau chỉ được hưởng thừa kế nếu hàng thừa kế trước đó không còn ai (do đã chết, bị truất quyền, từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng).