1. Tóm tắt bản án
Ngày 25/01/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án "Tranh chấp chia tài sản và nghĩa vụ của vợ chồng sau ly hôn" giữa nguyên đơn ông Nguyễn Quốc D và bị đơn bà Nguyễn Thị Hoài T, liên quan đến căn nhà và đất tại thửa số 555, tờ bản đồ số 28, địa chỉ A Đường C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo bản án sơ thẩm số 1441/2023/HNGĐ-ST ngày 16/5/2023 của TAND thành phố Thủ Đức, tài sản này được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tòa sơ thẩm chia tài sản theo tỷ lệ: ông D được 40% giá trị, bà T được 60% giá trị căn nhà, đồng thời giao toàn bộ căn nhà, đất cho bà T quản lý và buộc bà T thanh toán cho ông D phần giá trị tương ứng với 40%.
Ngoài ra, Tòa sơ thẩm còn buộc ông D và bà T liên đới trả nợ cho bà Nguyễn Thị H1 và thừa kế ông Nguyễn Đình C số nợ tương đương 22,73 lượng vàng SJC, mỗi bên chịu 11,365 lượng vàng, quy đổi thành tiền tại thời điểm thi hành án.
Bà T kháng cáo, yêu cầu chia tài sản theo tỷ lệ bà được 70% và ông D được 30% giá trị. Tuy nhiên, Tòa phúc thẩm nhận định yêu cầu này không có căn cứ, vì Tòa sơ thẩm đã xem xét đầy đủ công sức quản lý, gìn giữ và sử dụng tài sản của bà T sau ly hôn. Do vậy, Tòa phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác yêu cầu kháng cáo của bà T và tuyên bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay từ ngày tuyên án.
2. Nhận xét, đánh giá
Bản án thể hiện sự phân xử chặt chẽ, toàn diện và hợp lý của Tòa án cấp sơ thẩm cũng như cấp phúc thẩm. Các cơ sở pháp lý áp dụng được lựa chọn chính xác, từ việc xác định tài sản chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đến nguyên tắc chia tài sản có xét đến công sức đóng góp theo Điều 59 cùng luật.
Tòa án đã công bằng khi không chia đôi tài sản một cách máy móc mà xem xét thực tế bà T sau ly hôn là người trực tiếp sinh sống, bảo quản tài sản, có đóng góp vào việc làm tăng giá trị tài sản. Việc quyết định cho bà T hưởng 60% giá trị và ông D hưởng 40% giá trị là hợp lý và tuân thủ nguyên tắc "bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em sau ly hôn" quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với nghĩa vụ trả nợ, việc buộc hai bên chịu trách nhiệm liên đới ngang nhau phù hợp với quy định về nghĩa vụ chung trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tòa đã giải quyết gọn gàng, chấm dứt hoàn toàn các tranh chấp phát sinh, bảo đảm sự ổn định về mặt pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án.
Tuy nhiên, một điểm lưu ý là thủ tục tố tụng còn kéo dài (khởi kiện từ năm 2018 đến xử phúc thẩm năm 2024), cho thấy thực tiễn giải quyết các vụ án chia tài sản sau ly hôn tại Việt Nam vẫn còn phức tạp và dễ phát sinh kéo dài, đặc biệt khi liên quan đến tài sản có giá trị lớn và tranh chấp về nghĩa vụ tài chính.
3. Bài học pháp lý rút ra
Từ vụ án này, có thể rút ra ba bài học pháp lý quan trọng:
Xác định tài sản chung: Trong hôn nhân, tất cả tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung, trừ khi có chứng cứ chứng minh tài sản riêng. Khi ly hôn, việc phân chia tài sản cần tuân thủ nguyên tắc "chia đôi nhưng có xét đến công sức đóng góp của mỗi bên".
Cẩn trọng với nghĩa vụ tài chính: Các khoản vay mượn trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xác định là nghĩa vụ chung nếu sử dụng cho mục đích chung của gia đình. Vợ chồng cần lưu trữ đầy đủ hồ sơ vay nợ để tránh tranh chấp, và cần xác định rõ phương án giải quyết nợ khi ly hôn.
Tầm quan trọng của bảo vệ quyền lợi sau ly hôn: Người trực tiếp sử dụng, quản lý tài sản chung sau ly hôn, nếu có công sức bảo quản, làm gia tăng giá trị tài sản, sẽ được Tòa án xem xét để hưởng tỷ lệ chia tài sản lớn hơn. Đây là cơ sở để khuyến khích bên giữ tài sản quản lý đúng cách, tránh tình trạng tài sản bị xuống cấp, mất giá trị.
Bản án cũng cho thấy rõ rằng sự kiên nhẫn trong quá trình tố tụng và việc chuẩn bị tài liệu, chứng cứ đầy đủ là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả vụ kiện trong các tranh chấp tài sản sau ly hôn./. (LS. Lê Thị Bích Chi, Công ty Luật Viên An).
Nguồn: Tòa án nhân thành thành phố Hồ Chí Minh (2024), Bản án về tranh chấp chia tài sản và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi ly hôn số 19/2024/HNGĐ-PT ngày 25/01/2024, Hồ Chí Minh.
*Lưu ý:
- Bài viết này được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo chung về các quy định pháp luật hiện hành;
- Để đảm bảo quyền lợi và có được tư vấn phù hợp với tình huống cụ thể, bạn vui lòng liên hệ với đội ngũ luật sư của Công ty Luật Viên An hoặc gọi ngay đến số gọi số: 097.275.7676 để được hỗ trợ chi tiết và chính xác nhất.