luatvienan@vienan.vn | 028 7300 6876 - 097 2757676
Thời gian làm việc: Sáng: 08:00 - 12:00 - Chiều: 13:30 - 17:30

NHỮNG NỘI DUNG CHỦ ĐẠO CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Trang chủ / Kiến thức pháp luật / Trao đổi kiến thức pháp luật / NHỮNG NỘI DUNG CHỦ ĐẠO CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Developer 14 tháng 5 2025

NHỮNG NỘI DUNG CHỦ ĐẠO CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Ngày 30 tháng 4 năm 2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết không chỉ thể hiện tư duy chiến lược của Đảng về hoàn thiện thể chế pháp luật mà còn đề ra những định hướng, nhiệm vụ và giải pháp mang tính đột phá, phục vụ cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số mạnh mẽ.

Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Điều này thể hiện qua yêu cầu nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát, chống tham nhũng, tiêu cực trong quá trình hoạch định chính sách và ban hành pháp luật. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được khuyến khích phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội thực chất, tạo nên cơ chế dân chủ hóa trong quá trình xây dựng pháp luật.

Đáng chú ý, Nghị quyết xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nước mà còn phải trở thành động lực kiến tạo phát triển, khơi thông nguồn lực, tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế “hai con số”.

Theo Nghị quyết, mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, đồng bộ, khả thi, với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, bảo đảm hoạt động thông suốt của bộ máy nhà nước sau tinh gọn. Trọng tâm là khắc phục triệt để các “điểm nghẽn” pháp lý đang cản trở phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh. Đến năm 2028, Việt Nam phấn đấu hoàn thiện thể chế để môi trường đầu tư nằm trong nhóm ba nước hàng đầu ASEAN.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu có hệ thống pháp luật hiện đại, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế tiên tiến, tôn trọng và bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, góp phần xây dựng quốc gia phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra bảy nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ đạo, trong đó đáng chú ý là các nội dung sau:

Thứ nhất, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật và phát huy vai trò Đảng lãnh đạo.

Công tác xây dựng pháp luật được yêu cầu chuyển từ tư duy "quản lý" sang tư duy "kiến tạo", từ "cấm đoán" sang "khuyến khích". Đặc biệt, việc từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” được nhấn mạnh như một nguyên tắc then chốt để giải phóng nguồn lực phát triển. Nghị quyết khẳng định vai trò người đứng đầu các cơ quan trong chỉ đạo trực tiếp công tác pháp luật, gắn với trách nhiệm chính trị và kỷ luật công vụ.

Thứ hai, xây dựng pháp luật khơi thông mọi nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Một trọng tâm quan trọng là hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, các rào cản pháp lý bất hợp lý sẽ được gỡ bỏ; quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và tự do hợp đồng của người dân, doanh nghiệp được bảo đảm thực chất. Nghị quyết cũng đề cao việc xây dựng pháp luật phục vụ phát triển các ngành kinh tế mới như trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, chuyển đổi xanh, tài sản mã hóa...

Đặc biệt, yêu cầu khẩn trương sửa đổi các quy định liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, phân cấp, phân quyền và cơ cấu lại không gian phát triển nhằm thích ứng với mô hình chính quyền ba cấp mới.

Thứ ba, tạo đột phá trong thi hành pháp luật và bảo đảm thượng tôn Hiến pháp.

Cùng với việc hoàn thiện pháp luật, Nghị quyết đặt trọng tâm vào tổ chức thi hành pháp luật. Tinh thần “người dân được làm những gì pháp luật không cấm” trở thành nguyên tắc chủ đạo. Nhà nước thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tăng cường đối thoại, phản hồi chính sách, giải quyết vướng mắc pháp lý từ thực tiễn. Việc áp dụng công nghệ số trong phổ biến, giáo dục pháp luật, giải thích và hướng dẫn pháp luật cũng được ưu tiên triển khai rộng rãi.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả hợp tác pháp lý quốc tế.

Nghị quyết đề ra phương hướng chủ động hội nhập pháp luật quốc tế, tham gia vào định hình trật tự pháp lý toàn cầu, đặc biệt là trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại, và giải quyết tranh chấp quốc tế. Đáng lưu ý là chủ trương phát triển nguồn nhân lực có năng lực pháp lý quốc tế, tăng cường sự hiện diện của chuyên gia Việt Nam trong các tổ chức pháp lý quốc tế.

Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật.

Coi trọng công tác đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ làm công tác pháp luật là một trong những trụ cột nâng cao chất lượng thể chế. Nhà nước áp dụng chính sách đặc thù như kéo dài thời gian công tác cho cán bộ có năng lực, trả lương cao cho chuyên gia pháp luật, và khuyến khích nhà khoa học, luật gia giỏi tham gia khu vực công. Đồng thời, chất lượng đào tạo luật sẽ được chấn chỉnh với tiêu chuẩn nghiêm ngặt và định hướng chuyên sâu.

Thứ sáu, tăng cường ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo vào xây dựng
pháp luật.

Chuyển đổi số trong xây dựng pháp luật là định hướng xuyên suốt. Hệ thống dữ liệu pháp lý lớn, các công cụ hỗ trợ trí tuệ nhân tạo sẽ được xây dựng để phục vụ hiệu quả cho việc soạn thảo, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Việc ứng dụng số hóa cũng được mở rộng trong công tác trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm, giáo dục pháp luật và cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực pháp lý.

Thứ bảy, đổi mới cơ chế tài chính và thành lập Quỹ hỗ trợ xây dựng pháp luật.

Một điểm mới mang tính đột phá là việc quy định tỷ lệ ngân sách chi cho công tác xây dựng pháp luật không thấp hơn 0,5% tổng chi ngân sách hằng năm. Nghị quyết còn đặt ra yêu cầu thành lập Quỹ hỗ trợ xây dựng chính sách, pháp luật kết hợp nguồn lực nhà nước và xã hội hóa, nhằm tăng cường tính chủ động, minh bạch và hiệu quả trong công tác pháp luật.

Để thực hiện hiệu quả các nội dung nêu trên, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật do Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Đồng thời, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan dân vận, tuyên giáo và các địa phương được giao nhiệm vụ cụ thể trong triển khai thực hiện Nghị quyết. Bộ Tư pháp là cơ quan thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo, có trách nhiệm phối hợp theo dõi, kiểm tra, đánh giá định kỳ kết quả thực hiện.

Như vậy, Nghị quyết 66-NQ/TW là cột mốc quan trọng trong tiến trình cải cách thể chế ở Việt Nam. Với tầm nhìn dài hạn, nội dung toàn diện và định hướng rõ ràng, Nghị quyết không chỉ khắc phục những hạn chế trong hệ thống pháp luật hiện hành mà còn kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho sự phát triển bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới. Việc hiện thực hóa các nội dung của Nghị quyết sẽ phụ thuộc vào quyết tâm chính trị, năng lực thực thi và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị./. (TS. LS. Nguyễn Thị Huyền Trang).

Nguồn: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Hà Nội: Văn phòng Trung ương Đảng, 2025.