luatvienan@vienan.vn | 028 7300 6876 - 097 2757676
Thời gian làm việc: Sáng: 08:00 - 12:00 - Chiều: 13:30 - 17:30

QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

Trang chủ / Kiến thức pháp luật / Trao đổi kiến thức pháp luật / QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
Developer 13 tháng 5 2025

QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

Người bào chữa đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo – một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự hiện đại. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (số 101/2015/QH13) đã quy định cụ thể, toàn diện hơn về người bào chữa, nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người và thúc đẩy tố tụng hình sự công bằng.

Theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, người bào chữa là người được người bị buộc tội, người đại diện hợp pháp của họ hoặc cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định để thực hiện việc bào chữa cho người bị buộc tội trong vụ án hình sự. Người bào chữa có thể là: (1) Luật sư; (2) Người đại diện của người bị buộc tội; (3) Bào chữa viên nhân dân trong trường hợp xét xử theo trình tự sơ thẩm ở Tòa án nhân dân cấp huyện, theo yêu cầu của người bị buộc tội. Như vậy, so với các quy định trước đây, Bộ luật năm 2015 đã cụ thể hóa hơn đối tượng được công nhận là người bào chữa, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tự do lựa chọn người bào chữa của người bị buộc tội.

Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. Theo đó, người bào chữa có quyền: gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, tạm giam để tìm hiểu vụ việc, thu thập tài liệu, chứng cứ, tham gia hỏi cung, tham gia phiên tòa, tranh luận và đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu. Người bào chữa cũng có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp hợp pháp để làm sáng tỏ các tình tiết làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự cho thân chủ của mình. Đặc biệt, Bộ luật cấm người bào chữa tiết lộ thông tin liên quan đến vụ án mà họ biết được trong quá trình hành nghề, trừ trường hợp được thân chủ đồng ý hoặc pháp luật quy định khác (điểm g Khoản 2 Điều 73).

Về thời điểm tham gia, Điều 74 quy định người bào chữa có thể tham gia tố tụng ngay từ khi có quyết định khởi tố bị can. Trường hợp người bị tạm giữ, bị bắt, bị cáo buộc thì có quyền nhờ người bào chữa tham gia ngay từ khi bị giữ, bắt. Đây là điểm tiến bộ lớn của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 so với các quy định trước đây, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa từ giai đoạn sớm trong quá trình tố tụng.

Bên cạnh đó, Điều 78 quy định về thủ tục đăng ký bào chữa. Sau khi được người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp mời, luật sư cần xuất trình thẻ luật sư và giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư hoặc văn bản mời luật sư, đề nghị cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Thủ tục này được quy định chi tiết hơn nhằm minh bạch quá trình tham gia của người bào chữa vào vụ án.

Đáng chú ý, Bộ luật cũng quy định rõ các trường hợp từ chối hoặc thay đổi người bào chữa tại Điều 77, nhằm bảo đảm khách quan, công bằng trong quá trình tố tụng. Người bào chữa phải từ chối bào chữa hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong các trường hợp như đồng thời là người bị hại, đương sự, nhân chứng trong vụ án; hoặc có quan hệ thân thích với những người tiến hành tố tụng có thể gây ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án.

Ngoài ra, đối với các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa, Điều 76 quy định rõ: nếu người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không có người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ. Quy định này thể hiện sự bảo vệ đặc biệt đối với nhóm yếu thế trong tố tụng hình sự, phù hợp với yêu cầu của các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước về Quyền trẻ em năm 1989.

Như vậy, các quy định về người bào chữa trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã khắc phục nhiều hạn chế của pháp luật trước đây, bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa, nâng cao tính công bằng, minh bạch của quy trình tố tụng hình sự. Qua đó, quyền con người và quyền công dân được bảo vệ thực chất hơn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự./. (LS. Bùi Thị Kim Quyên, Công ty Luật Viên An).

Nguồn: Quốc Hội (2015), Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Hà Nội.

*Lưu ý:

- Bài viết này được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo chung về các quy định pháp luật hiện hành;

- Một số điều khoản pháp luật được đề cập có thể đã được sửa đổi, bổ sung hoặc hết hiệu lực tại thời điểm bạn tiếp cận thông tin;

- Để đảm bảo quyền lợi và có được tư vấn phù hợp với tình huống cụ thể, bạn vui lòng liên hệ với đội ngũ luật sư của Công ty Luật Viên An hoặc gọi ngay đến số gọi số: 097.275.7676 để được hỗ trợ chi tiết và chính xác nhất.