Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa cá nhân và Nhà nước, xác định quyền và nghĩa vụ của công dân đối với quốc gia. Tại Việt Nam, các quy định liên quan đến quốc tịch được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 56/2014/QH13, thông qua ngày 24/11/2014.
Theo Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014), Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp luật có quy định khác. Đồng thời, Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài (Điều 6) và tạo điều kiện để trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch, nhằm hạn chế tình trạng không quốc tịch (Điều 8).
Về nguyên tắc xác lập quốc tịch, Điều 15 và Điều 16 quy định rằng trẻ em sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam hoặc có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam trong một số trường hợp sẽ được mang quốc tịch Việt Nam. Đặc biệt, theo Điều 18, trẻ em bị bỏ rơi trên lãnh thổ Việt Nam mà không xác định được cha mẹ cũng được công nhận quốc tịch Việt Nam.
Đối với việc nhập quốc tịch, Điều 19 Luật Quốc tịch quy định các điều kiện cơ bản để người nước ngoài hoặc người không quốc tịch đang thường trú tại Việt Nam được nhập quốc tịch, bao gồm: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, biết tiếng Việt đủ để hòa nhập cộng đồng, đã thường trú tại Việt Nam từ 5 năm trở lên, và có khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 20, đối với những trường hợp đặc biệt như vợ, chồng, cha, mẹ, hoặc con của công dân Việt Nam hoặc người có công lao đặc biệt với đất nước, một số điều kiện có thể được miễn trừ.
Về vấn đề trở lại quốc tịch Việt Nam, Điều 23 quy định rằng người đã mất quốc tịch Việt Nam có thể được xem xét cho trở lại trong các trường hợp như: hồi hương về Việt Nam, có quan hệ gia đình với công dân Việt Nam, có công lao đặc biệt hoặc có lợi cho Nhà nước Việt Nam, hoặc trong trường hợp đã xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng không nhập được quốc tịch nước ngoài. Theo thông tin mới nhất, dự thảo Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2025 đang được xây dựng theo hướng mở rộng khả năng giữ song tịch cho người trở lại quốc tịch Việt Nam, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho kiều bào và người Việt Nam ở nước ngoài.
Ngoài ra, theo Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam, công dân có thể xin thôi quốc tịch nếu đáp ứng điều kiện đã nhập quốc tịch nước ngoài và không thuộc các trường hợp cấm như đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc nợ thuế. Trong trường hợp gây phương hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, nền độc lập dân tộc hoặc uy tín của Việt Nam, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thể bị tước quốc tịch theo quy định tại Điều 31.
Về song tịch, hiện nay Việt Nam về nguyên tắc công nhận một quốc tịch. Tuy nhiên, trong thực tiễn, một số trường hợp đặc biệt được giữ đồng thời hai quốc tịch theo Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Dự thảo Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2025 đang đề xuất quy định rõ hơn về điều kiện giữ song tịch, đặc biệt yêu cầu người giữ song tịch thôi quốc tịch nước ngoài khi đảm nhiệm một số chức danh trong hệ thống chính trị hoặc bộ máy Nhà nước Việt Nam.
Thủ tục xin nhập quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc thôi quốc tịch được thực hiện theo quy định tại Điều 20 và Điều 24, theo đó, người có nhu cầu nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi cư trú hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Hồ sơ bao gồm đơn theo mẫu, bản khai lý lịch tư pháp, giấy tờ chứng minh nhân thân, giấy tờ chứng minh nơi cư trú và lý do xin nhập/trở lại/thôi quốc tịch.
Như vậy, quốc tịch là vấn đề liên quan mật thiết đến quyền công dân và chủ quyền quốc gia. Việc pháp luật Việt Nam quy định chặt chẽ nhưng cũng ngày càng linh hoạt hơn về quốc tịch cho thấy nỗ lực bảo đảm quyền lợi cá nhân đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng./. (TS.LS. Nguyễn Thị Huyền Trang, Công ty Luật Viên An).
Nguồn: Quốc hội Việt Nam, Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12, ngày 13 tháng 11 năm 2008; Quốc hội Việt Nam, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam số 56/2014/QH13, ngày 24 tháng 11 năm 2014...
*Lưu ý:
- Bài viết này được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo chung về các quy định pháp luật hiện hành;
- Một số điều khoản pháp luật được đề cập có thể đã được sửa đổi, bổ sung hoặc hết hiệu lực tại thời điểm bạn tiếp cận thông tin;
- Để đảm bảo quyền lợi và có được tư vấn phù hợp với tình huống cụ thể, bạn vui lòng liên hệ với đội ngũ luật sư của Công ty Luật Viên An hoặc gọi ngay đến số gọi số: 097.275.7676 để được hỗ trợ chi tiết và chính xác nhất.