luatvienan@vienan.vn | 028 7300 6876 - 097 2757676
Thời gian làm việc: Sáng: 08:00 - 12:00 - Chiều: 13:30 - 17:30

QUY ĐỊNH VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019

Trang chủ / Kiến thức pháp luật / Trao đổi kiến thức pháp luật / QUY ĐỊNH VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019
Developer 15 tháng 5 2025

QUY ĐỊNH VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019

Bộ luật Lao động năm 2019, được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 theo Luật số 45/2019/QH14, đã dành Chương V để quy định cụ thể và toàn diện về thỏa ước lao động tập thể. Thỏa ước lao động tập thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 75, là sự thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể giữa một bên là tổ chức đại diện người lao động với một bên là người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện của người sử dụng lao động, nhằm xác lập các điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Việc ký kết thỏa ước lao động tập thể phải đảm bảo các nguyên tắc về tính tự nguyện, thiện chí, hợp tác và công khai, minh bạch như đã được xác định trong các quy định chung về thương lượng tập thể tại Điều 66 Bộ luật Lao động năm 2019. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể phải không trái với quy định của pháp luật lao động và các quy định pháp luật khác có liên quan, đồng thời phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và có lợi hơn so với quy định của pháp luật hiện hành.

Điều 76 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định rõ ràng về nội dung của thỏa ước lao động tập thể. Theo đó, nội dung thỏa ước có thể bao gồm các điều khoản quy định cụ thể về mức lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chế độ làm thêm giờ, tiền thưởng, bữa ăn ca, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động, điều kiện làm việc, đào tạo nghề, bảo vệ lao động nữ, bảo vệ lao động chưa thành niên, bảo vệ người lao động yếu thế và các nội dung khác mà các bên thỏa thuận được. Nội dung thỏa ước phải bảo đảm có lợi hơn cho người lao động so với quy định tại Bộ luật Lao động, pháp luật liên quan hoặc so với điều kiện lao động đã áp dụng trong doanh nghiệp.

Bộ luật Lao động năm 2019 phân loại thỏa ước lao động tập thể thành thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành và thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, được quy định lần lượt tại Điều 75. Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp được ký kết giữa tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở với người sử dụng lao động, trong khi thỏa ước ngành và thỏa ước nhiều doanh nghiệp do tổ chức đại diện người lao động cấp trên cơ sở thương lượng và ký kết với tổ chức đại diện người sử dụng lao động hoặc với nhiều doanh nghiệp cùng tham gia.

Thủ tục đăng ký thỏa ước lao động tập thể được quy định chi tiết tại Điều 77 của Bộ luật. Theo đó, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký kết, bên sử dụng lao động có nghĩa vụ gửi thỏa ước lao động tập thể đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính để đăng ký. Trường hợp thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc nhiều doanh nghiệp, tổ chức đại diện người sử dụng lao động có trách nhiệm đăng ký với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Điều 78 quy định rằng thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực kể từ ngày được các bên thỏa thuận trong thỏa ước hoặc kể từ ngày đăng ký, nếu thỏa ước không quy định về hiệu lực. Thời hạn của thỏa ước lao động tập thể là không quá 03 năm, các bên có thể thỏa thuận về việc gia hạn nhưng thời hạn gia hạn cũng không quá 03 năm. Trong thời gian thỏa ước có hiệu lực, các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện các nội dung đã cam kết, đồng thời không được đơn phương thay đổi nội dung thỏa ước.

Điều 82 Bộ luật Lao động năm 2019 ghi nhận quyền sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể trong thời gian thỏa ước còn hiệu lực nếu có sự đồng ý của các bên tham gia ký kết. Việc sửa đổi, bổ sung phải thực hiện theo đúng trình tự thủ tục thương lượng, ký kết và đăng ký như đối với thỏa ước lao động tập thể mới. Đối với những nội dung sửa đổi, bổ sung, thời hạn hiệu lực được xác định theo thỏa thuận giữa các bên nhưng không vượt quá thời hạn hiệu lực còn lại của thỏa ước ban đầu hoặc thời hạn mới nếu các bên ký lại thỏa ước.

Điều 83 quy định rằng thỏa ước lao động tập thể sẽ hết hiệu lực trong các trường hợp như hết thời hạn hiệu lực, các bên có thỏa thuận chấm dứt hiệu lực trước thời hạn, hoặc doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động bị giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động. Việc gia hạn hoặc ký kết thỏa ước mới phải được thực hiện trước khi thỏa ước hiện tại hết hiệu lực để tránh khoảng trống pháp lý trong việc điều chỉnh quan hệ lao động tại doanh nghiệp hoặc ngành.

Có thể thấy rằng, với các quy định mới, đồng bộ và chặt chẽ tại Chương VI, Bộ luật Lao động năm 2019 đã nâng cao vị trí pháp lý của thỏa ước lao động tập thể, khẳng định vai trò của thương lượng tập thể như một công cụ chủ đạo để điều chỉnh và phát triển quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Việc tuân thủ nghiêm túc các quy định về thỏa ước lao động tập thể sẽ là nền tảng quan trọng để bảo đảm quyền lợi của người lao động, đồng thời tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững./. (LS. Bùi Ngọc Hùng Đức, Công ty Luật Viên An).

Nguồn: Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2019.

*Lưu ý:

- Bài viết này được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo chung về các quy định pháp luật hiện hành;

- Một số điều khoản pháp luật được đề cập có thể đã được sửa đổi, bổ sung hoặc hết hiệu lực tại thời điểm bạn tiếp cận thông tin;

- Để đảm bảo quyền lợi và có được tư vấn phù hợp với tình huống cụ thể, bạn vui lòng liên hệ với đội ngũ luật sư của Công ty Luật Viên An hoặc gọi ngay đến số gọi số: 097.275.7676 để được hỗ trợ chi tiết và chính xác nhất.