Bộ luật Lao động năm 2019, được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại kỳ họp thứ 8, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 theo Luật số 45/2019/QH14, đã dành một chương riêng để quy định về thương lượng tập thể nhằm khuyến khích xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh.
Theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật này, thương lượng tập thể được hiểu là quá trình đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là tổ chức đại diện người lao động với một bên là người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện của người sử dụng lao động, nhằm xác lập các điều kiện lao động, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn lao động. Thương lượng tập thể phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, thiện chí, hợp tác, bình đẳng, công khai và minh bạch như đã được quy định tại Điều 66 Bộ luật Lao động năm 2019.
Nội dung thương lượng tập thể theo Điều 67 bao gồm nhưng không giới hạn ở các vấn đề về tiền lương, trợ cấp, nâng lương, thưởng, bữa ăn ca và các chế độ phúc lợi khác; mức lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ và nghỉ giữa ca; đảm bảo việc làm cho người lao động; an toàn, vệ sinh lao động và việc thực hiện nội quy lao động; điều kiện, phương tiện hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động; bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc; cùng với các nội dung khác mà một hoặc các bên mong muốn đưa vào bàn thảo. Các bên tham gia thương lượng tập thể có quyền tự do thỏa thuận về các nội dung thương lượng nhưng phải tôn trọng nguyên tắc hợp pháp, không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
Về chủ thể tham gia thương lượng tập thể, Điều 68 và Điều 69 của Bộ luật quy định rằng tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể nếu đáp ứng đủ điều kiện về số lượng thành viên theo quy định, và trong trường hợp tại doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động thì tổ chức có số lượng thành viên lớn nhất sẽ là đại diện đề xuất thương lượng. Các bên có quyền thỏa thuận về số lượng và thành phần tham gia thương lượng, bảo đảm tính đại diện và hiệu quả của quá trình đối thoại.
Theo quy trình thương lượng tập thể tại doanh nghiệp quy định tại Điều 70, bên nhận được yêu cầu thương lượng tập thể có trách nhiệm không được từ chối tiến hành thương lượng. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, các bên phải thỏa thuận về thời gian, địa điểm bắt đầu thương lượng và thời gian thực hiện thương lượng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận yêu cầu. Thời gian thương lượng kéo dài không quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến nội dung thương lượng trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, ngoại trừ thông tin được xác định là bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật. Trong suốt quá trình này, tổ chức đại diện người lao động có thể tiến hành lấy ý kiến người lao động về nội dung, cách thức tiến hành thương lượng và kết quả đạt được, đồng thời việc thương lượng phải được lập biên bản, ghi rõ nội dung đã thống nhất và những nội dung còn có ý kiến khác nhau.
Điều 71 quy định rằng thương lượng tập thể được coi là không thành trong các trường hợp như một bên từ chối thương lượng, không thực hiện thương lượng đúng thời hạn, hết thời gian thương lượng nhưng không đạt được thỏa thuận, hoặc các bên xác định việc thương lượng không đạt được kết quả. Trong trường hợp thương lượng không thành, các bên có quyền tiến hành các thủ tục tiếp theo để giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời tổ chức đại diện người lao động phải tôn trọng các quy định về trình tự, thủ tục trước khi tiến hành các biện pháp tập thể như đình công.
Bên cạnh thương lượng tập thể ở cấp doanh nghiệp, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định về thương lượng tập thể ngành và thương lượng tập thể nhiều doanh nghiệp cùng tham gia tại Điều 72 và Điều 73. Theo đó, các nguyên tắc thương lượng, nội dung thương lượng được thực hiện tương tự như thương lượng tại doanh nghiệp, đồng thời việc tổ chức thương lượng có thể thông qua Hội đồng thương lượng tập thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập trên cơ sở yêu cầu của các bên. Quy trình thương lượng tập thể nhiều doanh nghiệp được các bên tự thỏa thuận phù hợp với thực tế và nhu cầu của các bên tham gia, nhằm bảo đảm hiệu quả và tính đại diện cao hơn cho quyền và lợi ích của người lao động.
Để hỗ trợ cho quá trình thương lượng tập thể, Điều 74 Bộ luật Lao động năm 2019 giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho các bên; cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan đến kinh tế - xã hội, thị trường lao động, quan hệ lao động nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên khi tiến hành thương lượng; hỗ trợ các bên trong việc xây dựng thỏa thuận thương lượng tập thể; và thành lập Hội đồng thương lượng tập thể khi có yêu cầu.
Quy định mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về thương lượng tập thể thể hiện rõ sự tiến bộ trong việc thúc đẩy đối thoại xã hội, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại các doanh nghiệp. Việc thực hiện đúng và hiệu quả các quy định về thương lượng tập thể không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động mà còn giúp doanh nghiệp duy trì được sự ổn định về nhân sự, tăng cường năng suất lao động và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng./. (LS. Đặng Kim Chinh, Công ty Luật Viên An).
Nguồn: Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2019.
*Lưu ý:
- Bài viết này được biên soạn nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo chung về các quy định pháp luật hiện hành;
- Một số điều khoản pháp luật được đề cập có thể đã được sửa đổi, bổ sung hoặc hết hiệu lực tại thời điểm bạn tiếp cận thông tin;
- Để đảm bảo quyền lợi và có được tư vấn phù hợp với tình huống cụ thể, bạn vui lòng liên hệ với đội ngũ luật sư của Công ty Luật Viên An hoặc gọi ngay đến số gọi số: 097.275.7676 để được hỗ trợ chi tiết và chính xác nhất.