Câu hỏi:
Ông Nguyễn Văn A bị khởi tố bị can, bắt tạm giam để điều tra về hành vi “cướp tài sản” và “giết người” trong một vụ án hình sự vào năm 1981. Sau khi bị tạm giam hơn 05 năm thì ông Nguyễn Văn A được thả vào năm 1987, sau đó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H đã ra quyết định đình chỉ điều tra vì không chứng minh được ông Nguyễn Văn A đã phạm tội.
Đến năm 2022, sau nhiều lần yêu cầu thì ông A mới nhận được quyết định đình chỉ điều tra. Ông Nguyễn Văn A muốn yêu cầu Nhà nước bồi thường vì đã gây oan sai cho ông. Vậy ông A có được Nhà nước bồi thường không? Và quy trình để ông A yêu cầu Nhà nước bồi thường như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại Điều 31 Bộ luật hình sự 2015và khoản 3 Điều 18 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, trường hợp Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị tạm giam oan sai.
Đối chiếu với các quy định pháp luật nêu trên thì ông A thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường thiệt hại do bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự.
Theo các quy định từ Điều 22 đến Điều 28 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, các khoản thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh, các khoản lãi và các chi phí khác, bao gồm:
Ngoài ra, người bị thiệt hại còn được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp và khôi phục danh dự như: Khôi phục chức vụ (nếu có), việc làm và các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật có liên quan; Khôi phục quyền học tập; Công khai xin lỗi trực tiếp; đăng báo xin lỗi…
Theo quy định tại Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, Ông A có thể lựa chọn nộp đơn yêu cầu bồi thường đến VKSND tỉnh H (cơ quan gây oan sai đối với ông A) hoặc khởi kiện tại TAND tỉnh H để yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp ông A chưa yêu cầu VKSND tỉnh H bồi thường hoặc không đồng ý với kết quả giải quyết bồi thường của VKSND tỉnh H.
b. Trình tự, thủ tục yêu cầu giải quyết bồi thường
Thứ nhất, đối với trường hợp ông A yêu cầu VKSND tỉnh H giải quyết bồi thường
(1). Ông A chuẩn bị hồ sơ yêu cầu bồi thường được quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, bao gồm: (1) Văn bản yêu cầu bồi thường; (2) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; (3) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại; (4) Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có).
(2). Ông A nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính tới VKSND tỉnh H.
(3). Sau khi nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường, VKSND tỉnh H sẽ thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường.
Thứ hai, đối với trường hợp ông A khởi kiện yêu cầu TAND tỉnh H giải quyết bồi thường: Trình tự, thủ tục cụ thể của việc giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
15 Tháng Giêng 2026
09 Tháng Giêng 2026